THƯỜNG QUÂY LÀ GÌ?
- Thanh Phong
- 14 thg 1
- 4 phút đọc
Thường hay còn gọi là xiêm, là một trong những trang phục gắn với đời sống sinh hoạt của người Á Đông.
Thường裳là chữ hình thanh. Chữ thường裳 được cấu tạo bởi hai bộ phận là thượng尚và và y衣: trong đó thượng尚 biểu thị âm đọc của chữ còn y衣biểu thị ý nghĩa liên quan đến quần áo. Ban đầu, thường裳 dùng để chỉ loại y phục mặc ở phần thân dưới, thuộc loại váy, chứ không phải quần. Loại váy này, bất kể nam hay nữ đều có thể mặc.
Thời thượng cổ những chiếc thường裳 sớm nhất được làm từ một tấm vải nguyên khổ, tức là không cần cắt may. Người ta quấn cả tấm vải quanh eo, phần vải thừa thì xếp thành các nếp gấp. Kích thước và số lượng nếp gấp được quyết định tùy theo vòng eo của người mặc. Loại thường裳 như vậy, trên thực tế chính là một kiểu váy đơn giản. Trong xã hội cổ đại, nam và nữ đều có thể mặc thường裳đặc biệt trong thời Tiên Tần và Hán. Về sau, cùng với sự phát triển của lễ chế và tư tưởng Nho giáo, thường dần được quy định chặt chẽ hơn về kiểu dáng, màu sắc, chiều dài và đối tượng sử dụng. Trong lễ phục, thường裳thường được thiết kế rộng, buông dài, tạo cảm giác trang trọng, ổn định, thể hiện sự tôn nghiêm và chuẩn mực của người mặc. Sự kết hợp giữa y và thường không chỉ nhằm che thân mà còn tạo nên một chỉnh thể thẩm mỹ mang tính biểu trưng cao.
Cũng có một số quan điểm giới chuyên môn cho rằng, cho rằng thường裳và thường常” từng là hai cách viết khác nhau của cùng một chữ. Trong Thuyết văn giải tự 说文解字, thường裳 được xem là dị thể của thường常. Về sau, hai chữ dần dần được phân công chức năng: thường常 dùng cho các nghĩa khác, còn thường裳thì tiếp tục được sử dụng với nghĩa “váy áo mặc ở phần thân dưới”.
Tương tự như việc chữ y 衣, vốn ban đầu chỉ “áo trên”, về sau phát triển thành cách gọi chung cho quần áo, thì chữ thường裳vốn chuyên chỉ y phục mặc dưới, sau này cũng có thể được dùng để chỉ chung quần áo. Ví dụ trong Mộc Lan thi 木兰诗: “脱我战时袍,著我旧时裳” (Cởi áo bào khi ra trận, mặc lại y phục cũ).
Giải nghĩa về thường, Thuyết văn giải tự chú說文解字註: “下帬也”註:《釋名》曰:“上曰衣,下曰裳。裳,障也,以自障蔽也。”《士冠禮》:“爵弁,服纁裳。皮弁,服素積。玄端,玄裳、黃裳、襍裳可也。”( “Hạ quần dã” chú: Thích danh viết: “Thượng viết y, hạ viết thường. Thường, chướng dã, dĩ tự chướng tế dã.” Nghĩa là: “Thường là váy mặc ở phần thân dưới”: Sách Thích Danh nói: “Phần trên gọi là y (áo), phần dưới gọi là thường (váy). Chữ thường có nghĩa là che chắn, dùng để tự che đậy thân mình.”
Tại nước ta các loại thường quây cũng được sử dụng song song với quần trong đời sống sinh hoạt thường ngày. Từ các dịp lễ thông thường đến các đại lễ, từ thiên tử đến thứ dân đều sử dụng thường.
Theo Toàn Thư, triều Trần dưới thời vua Trần Anh Tông quy định: “冬 十 月 制 武 官 戴 巾 衣 新 𬃑 文 官 戴 皂 丁 字 巾 從 官 戴 青 攢 花 巾 如 舊 制 文 武 官 衣 袖 自 九 寸 至 一 尺 二 寸 八 寸 以 下 不 許 用 . 文 武 官 不 得 着 襜 從 官 不 得 着 裳 青 攢 花 巾 有 两 金 環 貼 在 两 邊.” Nghĩa là: “Mùa đông, tháng 10, quy định kiểu mũ áo mới của quan văn võ. Quan văn thì đội mũ chữ đinh màu đen, tụng quan thì đội mũ toàn hoa màu xanh vẫn như quy chế cũ. Ống tay áo của các quan văn võ rộng 9 tấc đến 1 thước 2 tấc, không cho dùng từ 8 tấc trở xuống. Các quan văn võ không được mặc xiêm, tụng quan không được mặc thường (mũ toàn hoa xanh có hai vòng vàng đính vào hai bên)”. Như vậy tức là trước khi có quy định này, việc dùng xiêm thường trong quan văn là đã có tiền lệ, đến đây bị cấm.
Đến thời Trần Thuận Tông lại quy định: “惟内侍開裙皆不用裳” Nghĩa là: “Riêng quan nội thị thì dùng quần hai ống, không dùng thường.”
Sang đến đời Lê Trung Hưng, thường vẫn tồn tại phổ biến trong đời sống sinh hoạt. hiện vẫn còn một số tranh tượng liên quan:

Trong các triều đại phong kiến, nhất là thời Lý – Trần – Lê, tư duy “y – thường” vẫn hiện diện trong cấu trúc lễ phục cung đình và quan phục, dù hình thức cụ thể có nhiều biến đổi cho phù hợp với điều kiện bản địa.
Tóm lại, thường裳không chỉ là váy theo nghĩa đơn giản, mà là một khái niệm văn hóa – lịch sử giàu chiều sâu. Mà phản ánh cách người xưa tổ chức thế giới quan, trật tự xã hội và chuẩn mực lễ nghi thông qua y phục. Việc nghiên cứu thường裳vì thế không chỉ giúp hiểu rõ hơn về trang phục truyền thống, mà còn mở ra những tiếp cận quan trọng đối với tư duy thẩm mỹ và cấu trúc văn hóa của các xã hội Đông Á cổ truyền.
Tác giả: Thỏ ăn Su Hào
(Nội dung thuộc bản quyền của Thanh Phong
Vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn hoặc sử dụng lại)



Bình luận