MŨ MIỆN
- Thanh Nguyễn
- 11 thg 3
- 10 phút đọc
Dẫn nhập: Mũ miện là loại lễ quan quan trọng bậc nhất trong hệ thống lễ phục của các quốc gia Đông Á thời quân chủ, gắn liền với chế độ cổn miện và nghi lễ chính trị – tôn giáo của vương quyền. Từ Trung Quốc cổ đại, đặc biệt từ thời Chu trở đi, miện quan dần hình thành một hệ thống quy chế chặt chẽ, biểu thị trật tự tôn ti và quyền lực của người đội. Ảnh hưởng của chế độ này cũng lan tỏa sang các quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam, nơi mũ miện được tiếp thu, biến đổi và sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của triều đình qua nhiều thời kỳ lịch sử.
1. Mũ miện tại Trung Quốc
1.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
Miện quan là loại mũ đội phối hợp với miện phục. Đây loại lễ phục cao cấp bậc nhất hoàng đế, chư hầu và các quan lại cấp cao trong xã hội cổ đại Trung Quốc, đồng thời cũng là kiểu mũ quan trọng nhất trong hoạt động tế tự. Chế độ cổn miện bắt đầu từ thời Chu, còn được gọi là lưu quan, dân gian thường gọi là bình thiên quan. Hậu Hán thư 後漢書 Dư phục chí hạ輿服志下 ghi chép: “冕冠,垂旒,前後邃延,玉藻。Miện quan, buông lưu, trước sau thõng dài, có chuỗi ngọc trang sức.”
Bình Thiên quan (mũ Bình Thiên) là tên gọi thông tục của miện quan. Miện lưu vừa là tên gọi khác của miện quan, vừa chỉ riêng các chuỗi ngọc rủ trước sau của miện quan. Do đây là vật chuyên dùng của hoàng đế, nên trong thơ văn cổ “miện lưu” thường được dùng làm cách gọi thay cho hoàng đế, ví dụ trong bài Hòa Giả Xá nhân tảo triều Đại Minh cung chi tác của Vương Duy đời Đường có câu: “Vạn quốc y quan bái miện lưu.”
Tương truyền miện quan bắt nguồn từ thời Hoàng Đế. Đến thời Chu, chế độ quan phục được quy định và hoàn thiện, triều Chu thiết lập một hệ thống hoàn chỉnh về miện quan và miện phục. Theo Hán lễ khí chế độ ghi chép, miện của nhà Chu lấy gỗ làm thân mũ, rộng tám thốn, dài một xích sáu thốn; mặt trên sơn màu huyền (đen), mặt dưới màu huân (đỏ nhạt), phía trước và phía sau đều có lưu rủ xuống. Số lượng lưu phân biệt theo cấp bậc: mười hai, chín, bảy, năm, ba; mỗi lưu xâu chín hoặc mười hai hạt ngọc năm màu. Hình thức cơ bản của miện quan và hệ thống chế độ miện quan này cũng được các triều đại sau tiếp tục kế thừa.
Từ thời Hán trở đi, các triều đại nối tiếp nhau kế thừa chế độ này. Ban đầu miện quan không phải vật riêng của hoàng đế, mà cấp bậc người đội được phân biệt bằng số lượng lưu. Lễ ký 禮記 Lễ khí禮器 chép: “天子之冕,朱綠藻,十有二旒,諸侯九,上大夫七,下大夫五,士三。Miện của thiên tử dùng chu lục tảo, có mười hai lưu; chư hầu chín; thượng đại phu bảy; hạ đại phu năm; sĩ ba.” Tuy chủng loại miện phục, phạm vi sử dụng và cách bố trí hoa văn chương phục nhiều lần thay đổi và diễn biến, nhưng đến đời Đường từng cải cách chế độ miện quan, dùng loại hai mươi bốn lưu. Mỗi triều đại lại khác nhau nên tình hình khá phức tạp. Đến thời Minh, việc sử dụng miện quan được quy định rất nghiêm ngặt: ngoài hoàng đế, hoàng thái tử và thân vương, các quan chức khác không được phép đội. Theo Minh sử ghi chép, miện quan của hoàng đế trước sau đều có mười hai lưu, thái tử dùng mười một lưu, thân vương dùng chín lưu. Chế độ quan phục này được duy trì cho đến hết thời Minh; sang triều Thanh, do chính sách “cạo tóc đổi phục”, chế độ miện quan truyền thống cũng chấm dứt. Sau khi nhà Thanh thi hành chính sách này, chế độ miện quan bị bãi bỏ, thay bằng các loại mũ mang đặc trưng Mãn tộc như triều quan và cát phục quan.

1.2. Cấu tạo
Miện quan cơ bản được cấu tạo gồm:

Ngọc kê 玉笄: Ở phần nút giữa có thể cắm ngọc kê để cố định chiếc mũ lên búi tóc.
Miện lưu 冕旒: Hai đầu trước sau của miện đình buông các chuỗi lưu, được xâu bằng chỉ ngũ sắc và các hạt tròn ngũ sắc, tượng trưng cho việc quân vương có điều nhìn thấy, có điều không nhìn thấy. Tùy theo thân phận người đội mà có các loại ba, năm, bảy, chín hoặc mười hai lưu; trong đó mười hai lưu là tôn quý nhất, dành riêng cho hoàng đế. Tuy nhiên vào thời Hán, các chuỗi lưu của miện phục không bị giới hạn ở năm màu; theo Hậu Hán thư · Dư phục chế, mười hai lưu được xâu bằng các hạt ngọc trắng.
Miện diên 冕延: Cũng viết là diên 綖, là tấm ván gỗ trên cùng, còn gọi là miện bản hoặc diên bản. Phần trên màu đen, phần dưới màu đỏ; phía trước tròn, phía sau vuông, tượng trưng cho ý nghĩa trời tròn đất vuông. Phần sau cao hơn phần trước một thốn, khiến tấm bản hơi nghiêng về phía trước, tạo dáng cúi xuống phía trước, tượng trưng cho việc quân vương quan tâm đến bách tính. Tên gọi “miện” cũng bắt nguồn từ đặc điểm này.
Mạo quyển 帽卷: Tức thân mũ, trong hình không đánh dấu. Vào mùa hạ, khung được làm bằng cỏ ngọc; mùa đông dùng da làm khung; bên ngoài bọc sa màu đen huyền, bên trong lót sa màu đỏ chu.
Võ 武: Là vòng mũ ở phần đáy của thân mũ, được khảm bằng các mảnh kim loại. Trước thời Trung Cổ, phía chính diện của quan võ thường trang trí ve ngọc, mang ý nghĩa nhận mệnh trời mà kế thừa ngôi vị.
Anh 纓: Hai sợi dây tơ đỏ buông xuống từ hai bên miện bản, buộc lại dưới cằm để cố định mũ.
Khoáng 纊: Là hai miếng hoàng ngọc treo ở vòng mũ, lơ lửng bên ngoài lỗ tai, gọi là điền (trấn瑱), tục gọi sung nhĩ. Do treo ở hai bên tai nên tượng trưng cho việc quân vương có điều nghe, có điều không nghe, không dễ tin lời gièm pha.
Đản 紞: Là dải tua màu buông xuống hai bên diên, dùng để treo khoáng.
Thiên hà đới 天河帶: Là một dải lụa đỏ rộng khoảng hai ngón tay buông xuống từ miện bản, chiều dài có thể rủ tới phần thân dưới. Thiên hà đới xuất hiện muộn nhất từ thời Tần; các hình thức có thể khảo chứng phần lớn thấy trong tranh từ thời Tùy – Đường trở về sau (như trong tranh Lịch đại đế vương đồ của Diêm Lập Bản). Đến thời Tống mới có chế định rõ ràng. Khi nhà Minh khôi phục miện quan, dải thiên hà đới đã bị bãi bỏ.
2. Mũ miện tại Việt Nam
Phan Huy Chú trong Lịch triều Hiến chương Loại chí từng nhận xét: “Trang phục áo Cổn mũ Miện của các triều đại nước ta không còn dấu tích, đến thời vua Lê Thái Tông mới bắt đầu chế ra mũ Miện, về sau cũng không sử dụng.”
Điều này chưa thực đúng đắn. Tại nước ta, sự sự khuyết thiếu của các nguồn sử liệu nên chưa tìm thấy sự xuất hiện của cổn miện dưới thời Đinh và Tiền Lê. Sang đến thời Lý thì đã thấy đề cập đến mũ Bình thiên. Việt sử lược chép: “十一月,嗣慶送還平天冠-Tháng mười, Trần Tự Khánh trả lại vua mũ Bình Thiên”. An Nam chí lược ghi nhận vua nhà Trần trong dịp đại lễ đội mũ Bình Thiên, mặc áo Cổn. Như vậy, có thể thấy trong các dịp đại lễ, các vị vua Đại Việt đều mặc áo Cổn, đội mũ Bình Thiên tương tự các hoàng đế Trung Quốc.
Về mô tả mũ Bình Thiên, Phan Huy Chú viết: “trên mũ này có ván chụp, đằng trước tròn, đằng sau vuông, đằng trước sa xuống, đằng sau nghếch lên, dài 1 thước 6 tấc, rộng 8 tấc, đằng trước sa xuống 4 tấc, đằng sau sa xuống 3 tấc. Mũ Miện kết hợp với áo Cổn, phía trước và sau đều có 12 dây lưu, mỗi lưu có 12 viên ngọc, lấy dây tảo (dây tơ nhiều sắc) để xâu ngọc. Điều này cũng khá tương tự như thời Trần, Lê Tắc trong An Nam chí lược viết: “Miện lưu khá giống Trung châu” tức mũ Miện, dây lưu có quy chế đại để tương tự mũ Miện của Trung Quốc. Đồng thời ông cho biết, mũ Miện áp dụng cho các quan từ tước Đại liêu ban trở xuống có các đường viền làm bằng vàng bạc đan xen, Lệnh thư xá cho đến Hiệu thư lang đều đội mũ Miện bạc (tức viền bằng bạc).

Sang đến thời Lê sơ, ghi chép về chế độ cổn miện và đặc biệt là mũ miện đã rõ ràng hơn. Toàn thư chép: “戊申,繼天聖節。是日早,帝謁太廟,行賜拜禮,還宫鹵簿司盛設鹵 簿儀仗於丹墀,帝御衮冕朝服,御會英殿,大都督黎銀出百官著朝服,行進慶下表禮。帝御衮冕, 百官著朝服自此始- ngày Mậu Thân là Kế Thiên Thánh tiết, từ buổi sớm, vua yết Thái Miếu, hành lễ tứ bái (bốn lạy), khi về cung, Lỗ bộ ty bày đặt nghi trượng, lỗ bộ ở sân Đan Trì, vua mặc Triều phục Cổn Miện, ngự ở điện Hội Anh, Đại đô đốc Lê Ngân cùng bá quan mặc Triều phục, làm lễ dâng biểu chúc mừng. Vua mặc Cổn Miện, bá quan mặc Triều phục bắt đầu từ đây.” Như vậy, thời Lê sơ các hoàng đế Đại Việt từ Thái Tông đã sử dụng cổn miện trong các đại lễ, điều này cho thấy sự hoàn bị rất lớn về mặt điển chương.
Thời Lê Trung Hưng có nhiều quan điểm cho rằng cổ miện đã bị phế bỏ, song thực tế đây chưa hẳn là sự thật. Một số ghi chép tản mát vẫn chứng minh sự tồn tại của miện phục trong giai đoạn này. Toàn thư đề cập sự kiện vua Lê Thần Tông phong vương cho Trịnh Tráng vẫn dùng quy chế ban cho cổn miện: “Đặc sai Lại bộ thượng thư chưởng lục bộ sự kiêm Ngự sử đài đô ngự sử thiếu phó Lễ quận công Nguyễn Văn Giai mang sách vàng tiến phong làm Nguyên soái Thống quốc chính Thanh Đô Vương, và ban mũ, miện, quyển phục, lại ban ngọc khuê, ruộng đất”. Đến thời Trịnh Doanh vẫn thấy đề cập đến cổn miện, Cương mục chép: “Bắt đầu chế áo cổn, mũ miện thờ ở Văn Miếu. Nguyễn Huy Nhuận, viên quan giữ việc trong chính phủ, dâng lời nói: "Đấng thánh nhân là ông thầy của đế vương muôn đời, thế mà từ trước đến nay phẩm phục thờ ở Văn Miếu vẫn dùng mũ áo quan tư khấu2 , như thế không phải tỏ lòng tôn sùng". Bèn hạ lệnh đổi dùng phẩm phục áo cổn, mũ miện. Dùng phẩm phục đế vương thờ ở Văn Miếu, bắt đầu từ đây”. Như vậy thực tế vẫn có sự tồn tại của mũ bình thiên và áo cổn.
Sang đến nhà Nguyễn, từ năm 1830 là thời điểm triều đình vua Minh Mạng khôi phục quy chế Cổn Miện. Theo đó quy chế Lễ phục tế trời dành cho hoàng đế được quy định là mũ Miện 12 lưu và áo Cổn 12 chương, cụ thể được Hội điển cho biết: “Mũ Miện tế Giao trên vuông dưới tròn, đính hai chữ Vạn Thọ bằng vàng hoặc hai chữ Thiên Địa bằng vàng, 12 hình rồng mây, 6 hình ngọn lửa, 2 thùy văn, 4 nhiễu tường, 1 hoa sen, 1 đóa mây, 1 liên đằng chạy viền quanh thành mũ, 256 hạt vàng, 2 cúc, 2 khuyên. Mặt trước và sau có 24 dải lưu, hai bên phải trái mỗi bên 1 dải lưu, đều xâu chuỗi bằng san hô, trân châu, pha lê và các hạt vàng, tổng cộng 300 hạt. Xung quanh có mạng kim tuyến đính kết với 400 hạt vàng ngọc. Trâm khảm trân châu nối với dây thùy anh làm bằng tơ vàng. Phàm là mắt rồng đều khảm các hạt trân châu nhỏ. Võng cân sức 4 khuyên vàng.” Theo ghi nhận của Hội điển, Đại Nam thực lục và hình vẽ trong BAVH, mũ Miện dành cho Hoàng đế triều Nguyễn là loại mũ Miện 12 lưu (phía trước 12 lưu, phía sau 12 lưu), khớp với các nguyên tắc của mũ Miện dành cho thiên tử theo Chu lễ. Tuy nhiên, như chính lời vua Minh Mạng nói “Cổn Miện có từ thời Hiên Viên […] trẫm nay noi theo phép xưa mà thêm bớt”(2), dây sung nhĩ gắn ở hai bên thái dương mũ được đổi thành hai dải lưu, dây hoằng màu đỏ son được đổi thành dây thùy anh làm bằng tơ vàng, cùng lối trang trí trên đỉnh miện bản và quanh thân mũ đều có thể coi là những nét đặc sắc chỉ xuất hiện ở mũ Miện của triều Nguyễn.


Tạm kết:
Nhìn chung, mũ miện không chỉ là một loại trang phục lễ nghi mà còn là biểu tượng tập trung của quyền lực vương triều và trật tự chính trị trong xã hội truyền thống Đông Á. Từ Trung Quốc đến Việt Nam, dù trải qua nhiều biến đổi về hình thức và quy chế, mũ miện vẫn phản ánh sự tiếp nối của hệ thống lễ nhạc và điển chương. Việc khảo cứu loại hình trang phục này vì thế góp phần làm sáng tỏ thêm diện mạo văn hóa, nghi lễ và tư tưởng chính trị của các triều đại trong lịch sử.
Tài liệu tham khảo
高春明.中国衣冠服饰大辞典.上海辞书出版社.1996年12月第1
戴钦祥.中国古代服饰[M].北京:中国国际广播出版社,2010.
Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương Loại chí,tập 1, Viện sử học dịch, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Viện sử học dịch, Nxb Thuận Hóa, Hà Nội.
Quốc sử quán triều Nguyễn (Viện sử học dịch), 2007, Đại Nam thực lục, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
Tác giả: Thỏ ăn Su Hào
(Nội dung thuộc bản quyền của Thanh Phong
Vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn hoặc sử dụng lại)



Bình luận