top of page

ÁO NHẬT BÌNH

  • Ảnh của tác giả: Thanh Phong
    Thanh Phong
  • 6 thg 1
  • 6 phút đọc

1. Nguồn gốc


Theo Trần Quang Đức trong ngàn năm áo mũ định nghĩa: “Nhật Bình là loại áo Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng thái hậu, hoàng hậu, công chúa triều Nguyễn. Đây là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo.”

Theo Đại Nam Hội điển, áo Nhật Bình là Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng hậu, công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là dạng áo Phi Phong thời Minh, là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo. Thường phục Nhật Bình được đặt định vào năm 1807 thời vua Gia Long và được duy trì cho đến cuối thời Nguyễn. Song quy chế mũ mão kết hợp với loại trang phục này không ổn định. Như quy chế năm 1807 quy định từ hoàng hậu đến cung tần tứ giai nhất loạt sử dụng Kim ước phát phối với áo Nhật Bình, đến năm 1846 thời vua Thiệu Trị, Kim ước phát được thay thế bằng một loại thủ sức có tên Kim phượng. Cung tần tam giai, tứ giai và ngũ giai còn được phân biệt bởi số lượng trâm cài. Kiểu dáng cụ thể của Kim ước phát và Kim phượng, chúng tôi chưa thể khảo được. Song tư liệu tranh ảnh đầu thế kỷ XX cho thấy bất kể hoàng hậu, công chúa hay cung tần đều vấn khăn vành, mặc áo Nhật Bình, chứng tỏ quy chế trang phục của hậu phi triều Nguyễn đến thời vua Đồng Khánh, Khải Định vẫn được sửa đổi. Khăn vành, còn gọi khăn vành dây, là một khổ vải dài hơn chục mét, khổ rộng 30cm, được vấn gấp nếp thành hình chữ Nhân 人 ở giữa trán, sau đó quấn nhiều vòng quanh đầu, có khi lên tới 20, 30 vòng. Loại khăn này vào cuối thời Nguyễn được kết hợp với áo Nhật Bình, áp dụng làm Thường phục của hoàng thái hậu, hoàng hậu và Triều phục của mệnh phụ, cung tần, phần lớn có màu xanh lam. Sau này, khăn vành dần được phổ biến trong dân gian, được phụ nữ Việt Nam sử dụng trong các dịp lễ nghi trang trọng.

Hoàng hậu Nam Phương trong trang phục áo Nhật Bình
Hoàng hậu Nam Phương trong trang phục áo Nhật Bình

2. Quy chế Nhật Bình dành cho hậu phi thời Nguyễn


Theo Hội điển, quy chế lễ phục hậu phi năm 1807 được xây dựng hết sức chặt chẽ, phản ánh rõ trật tự đẳng cấp trong nội đình triều Nguyễn thông qua số lượng, hình thức mũ đội và kiểu thức y phục.

Đối với Hoàng hậu, lễ phục đạt đến mức độ trang trọng cao nhất. Mũ đội gồm hai chiếc Cửu long Kim ước phát và một chiếc Cửu phượng Kim ước phát, kèm theo tám trâm phượng, biểu trưng cho địa vị tối cao trong hậu cung. Y phục của Hoàng hậu là áo bào may bằng sa sợi vàng, trên đó thêu tới hai mươi hình rồng, phượng, loan, trĩ – những linh vật mang ý nghĩa quyền uy và cát tường. Ngoài ra còn có áo thường làm bằng tơ Bát ti màu trắng, thêu rồng phượng, dùng trong những dịp ít trang nghiêm hơn.

Công chúa có quy chế lễ phục thấp hơn Hoàng hậu nhưng vẫn rất cầu kỳ. Mũ đội là Thất phượng Kim ước phát với mười hai trâm hoa. Y phục chính là áo Nhật Bình may bằng sa sợi đỏ, thêu hình phượng ổ, thể hiện sự tôn quý gắn với huyết thống hoàng gia nhưng không đồng nhất với địa vị hậu phi.

Đối với cung tần nhị giai, mũ đội được quy định là Ngũ phượng Kim ước phát, kèm mười trâm hoa. Trang phục gồm áo Nhật Bình bằng sa màu xích đào, thêu loan ổ, cùng áo thường bằng tơ Bát ti trắng cũng thêu loan ổ. Việc sử dụng hình loan thay cho rồng hay phượng cho thấy sự phân biệt rõ ràng về phẩm cấp.

Ở cung tần tam giai, số lượng và mức độ trang sức tiếp tục được giản lược. Mũ đội là Tam phượng Kim ước phát với tám trâm hoa. Áo Nhật Bình được may bằng sa màu tím chính sắc, thêu phượng ổ, đi kèm áo thường bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ, phản ánh vị trí trung gian trong hệ thống hậu cung.

Thấp hơn là cung tần tứ giai, chỉ được đội Nhất phượng Kim ước phát cùng tám trâm hoa. Y phục gồm áo Nhật Bình bằng sa màu tím nhạt, không nhấn mạnh hoa văn cao quý, và áo thường bằng tơ Bát ti trắng thêu loan. Sự giản dị tương đối này thể hiện rõ sự phân tầng trong nghi chế.

Đáng chú ý, đến thời Thiệu Trị (năm thứ 6 – 1846), triều đình tiếp tục điều chỉnh chi tiết về mũ đội nhằm nhấn mạnh sự phân biệt đẳng cấp: cung tần nhất giai và nhị giai đều dùng mũ Kim phượng có ba bấc sơn, song nhất giai có tám phượng, nhị giai bảy phượng; cung tần tam giai được cài trâm phượng trên búi tóc, trong khi tứ giai và ngũ giai không cài trâm. Điều này cho thấy lễ phục không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn là công cụ trực quan để xác lập trật tự và quyền uy trong nội cung triều Nguyễn.

Quy chế lễ phục của Hậu Phi năm 1807 - Nguồn: Ngàn năm áo mũ – Trần Quang Đức
Quy chế lễ phục của Hậu Phi năm 1807 - Nguồn: Ngàn năm áo mũ – Trần Quang Đức

3. Ý nghĩa và giá trị của áo Nhật Bình trong giai đoạn ngày nay


Trong bối cảnh hiện đại, áo Nhật Bình không còn tồn tại như một lễ phục cung đình, song giá trị của nó đang được kế thừa và tái sinh dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trước hết, áo Nhật Bình được phục dựng và trình diễn trong các hoạt động văn hóa – di sản, như lễ hội truyền thống, nghi lễ cung đình Huế tái hiện, biểu diễn nghệ thuật và trưng bày bảo tàng. Những hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị lịch sử – văn hóa của trang phục truyền thống, đồng thời khẳng định vai trò của áo Nhật Bình như một biểu tượng đặc trưng của văn hóa cung đình triều Nguyễn.

Thứ hai, áo Nhật Bình trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế thời trang đương đại. Nhiều nhà thiết kế đã khai thác các yếu tố đặc trưng như cổ vuông, bố cục hoa văn đối xứng, bảng màu truyền thống để sáng tạo nên những mẫu trang phục mới, phù hợp với thị hiếu hiện đại nhưng vẫn giữ được tinh thần truyền thống. Sự cách tân này giúp áo Nhật Bình bước ra khỏi không gian bảo tồn, tiếp cận đời sống xã hội đương đại.

Ngoài ra, áo Nhật Bình ngày càng được ứng dụng trong các sự kiện văn hóa – xã hội, đặc biệt là chụp ảnh kỷ niệm, lễ cưới truyền thống, hoạt động giáo dục lịch sử và du lịch trải nghiệm. Trong các không gian di sản như Huế, áo Nhật Bình không chỉ là trang phục mặc mà còn là “phương tiện kể chuyện”, giúp du khách tiếp cận lịch sử bằng trải nghiệm trực quan.

Cuối cùng, việc nghiên cứu, phục dựng và ứng dụng áo Nhật Bình trong hiện tại còn mang ý nghĩa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua áo Nhật Bình, các giá trị về thẩm mỹ, lễ nghi và kỹ nghệ truyền thống được truyền tải sang thế hệ trẻ, góp phần khẳng định sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.

 

Tác giả: Thỏ ăn Su Hào

(Nội dung thuộc bản quyền của Thanh Phong

Vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn hoặc sử dụng lại)



Bình luận


bottom of page